PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN
PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ”
CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp”[1]. Những biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không được ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây cũng chính là một cách thức để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là nội dung then chôt trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; quyết định đến sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, đặc biệt trong điều kiện đảng cầm quyền.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức nguy cơ, tác hại suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, 28 lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”[2]. Do đó, nhận diện sâu sắc, có biện pháp quyết liệt, đồng bộ và triệt để chính là yêu cầu quan trọng, có tính cấp thiết và ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm chủ động ngăn ngừa, đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ sớm, từ xa.
Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên
“Tự diễn biến” là quá trình tự vận động, biến đổi từ bên trong của chủ thể. Đối với cán bộ, đảng viên đây là quá trình biến đổi theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ trong cả nhận thức, niềm tin và hành động. Biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên hiện nay có thể thấy đó là: sự suy giảm về nhận thức, về tư tưởng chính trị, ngày càng xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, xa rời lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xa rời Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời đường lối của Đảng. Suy giảm niềm tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Suy giảm về phẩm chất đạo đức, lối sống, ngày càng xa rời những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN, trượt dần sang đạo đức, lối sống tư sản, quay về với những thói hư, tật xấu của đạo đức, lối sống phong kiến…
Tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu, sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”. Đây là sự thay đổi về chất các quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một tổ chức và cá nhân, dẫn tới biến đổi không còn là chính mình nữa, thậm chí chuyển sang phía đối lập.
“Tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” là hai quá trình khác nhau nhưng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” lại gắn kết với nhau trong một quá trình vận động, biến đổi trong các tổ chức và mỗi con người. Quá trình “tự diễn biến” cũng là quá trình “tự chuyển hóa” nhưng đang ở trong những giới hạn nhất định. Đến một lúc nào đó thì từ “tự diễn biến” sẽ dẫn tới “tự chuyển hóa” toàn bộ; lúc đó tổ chức, con người sẽ thay đổi hoàn toàn về bản chất. Khi có biểu hiện “tự diễn biến” sẽ làm cho quá trình “tự chuyển hóa” diễn ra nhanh hơn. Ngược lại, khi “tự chuyển hóa” xảy ra sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” mạnh hơn. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đánh dấu bước đột phá về công tác tổng kết thực tiễn xây dựng Đảng. Đảng ta đã chỉ rõ 27 biểu hiện cụ thể của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Đây là căn cứ để đánh giá sự suy thoái và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đảng viên, tổ chức Đảng, trên cơ sở đó có biện pháp thi hành kỷ luật nghiêm minh, tránh tình trạng đánh giá tình hình chung chung, nhưng không chỉ ra được cụ thể ai, tổ chức nào suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, có thể từng người đến đội ngũ. Nguy hiểm hơn là từ “tự chuyển hóa” con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên có thể dẫn đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và hệ thống chính trị, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu. Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ đối với vai trò của cán bộ, đảng viên mà còn đối với vai trò và sự lãnh đạo của Đảng; vai trò và sự quản lý, điều hành của bộ máy Nhà nước, của chính quyền các cấp; vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ làm bản thân cán bộ, đảng viên dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là “gốc của mọi công việc”, vai trò chiến sĩ tiên phong trong nhân dân; và cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của cán bộ, đảng viên. Chính từ những hạn chế, yếu kém của cán bộ, đảng viên sẽ làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò và sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội, vào tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ đó, nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không quyết tâm phấn đấu để thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Điều đó sẽ hạn chế việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều quan điểm chỉ đạo việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng còn tồn tại những hạn chế nhất định. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”[3]. Thực tế đó cho thấy, đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một vấn đề hệ trọng, nhưng rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ. Căn nguyên sâu xa của thực trạng trên xuất phát từ những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, công tác lãnh đạo, quản lý của Nhà nước; hạn chế yếu kém của công tác cán bộ; sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên...
.png)
Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là toàn bộ các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp được tiến hành đồng bộ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm cho cán bộ, đảng viên luôn tuyệt đối trung thành, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiêu biểu về đạo đức cách mạng, tự giác tu dưỡng, rèn luyện để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Trước mức độ nguy hiểm, hậu quả khôn lường của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng ta đã xác định tinh thần chủ động đấu tranh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là việc làm thường xuyên, liên tục, kiên quyết và toàn diện góp phần đẩy lùi nguy cơ tồn vong của Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh về mọi mặt: tư tưởng, chính trị, tổ chức... Để tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đội ngũ cán bộ, đảng viên cần quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm các chủ thể trong ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên nhân dân Việt Nam. Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng tạo cơ sở tiền đề để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ mọi hoạt động của con người đều phải bắt đầu từ nhận thức, có nhận thức đúng mới có cơ sở để hành động đúng. Chất lượng, hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.
Lãnh đạo các cấp phải tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa các quy định như: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25/10/2018 Ban Chấp hành Trung ương Đảng “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Nghị quyết số 35- NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”;...
Việc thực hiện các quy định về nêu gương cần gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII, XIII về xây dựng Đảng. Cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần quán triệt và thực hiện tốt phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm các tổ chức đảng, đảng viên có biểu hiện tư tưởng chủ quan, coi nhẹ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trong ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Thường xuyên kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên chưa tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện; thiếu ý thức trong học tập chính trị, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, chưa an tâm công tác, vi phạm quy định của Đảng, cơ quan, đơn vị; quan liêu, mất dân chủ, dân chủ hình thức, độc đoán, chuyên quyền và “bệnh thành tích”. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện, gửi đi đào tạo, thực tế để chuẩn hóa các chức danh theo quy định; khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên phát huy vai trò nêu gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Hai là, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ, năng lực giỏi; thật sự là tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trình độ, năng lực của cán bộ chủ trì, đặc biệt là sự mẫu mực, tấm gương tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và thái độ kiên quyết đấu tranh của họ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.
Thực tiễn đã chứng minh, người lãnh đạo, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực giáo dục, tuyên truyền tốt, thường xuyên tự phê bình và phê bình; tích cực phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, thì chắc chắn hiện tượng tha hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ rất khó xảy ra. Do vậy, phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp để họ thực sự có trình độ, năng lực giỏi, là tấm gương tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong cơ quan, đơn vị.
Theo đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì phải được tiến hành toàn diện và đồng bộ, đúng nguyên tắc, từ khâu phát hiện, bồi dưỡng, luân chuyển, thực tế, tạo nguồn đến bổ nhiệm, sử dụng và đãi ngộ. Phải coi trọng việc quản lý chặt chẽ, toàn diện cán bộ chủ trì cả về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Quản lý, đánh giá chính xác cán bộ chủ trì trong việc quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước, quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị; quản lý các mối quan hệ, hoàn cảnh và điều kiện sống của gia đình; quản lý việc chấp hành quy định về những điều đảng viên không được làm…
Khắc phục tư tưởng cho rằng, công tác quản lý trong đơn vị chỉ một chiều từ trên xuống dưới mà coi nhẹ việc quản lý của cấp uỷ, tổ chức đảng; sự giám sát của các tổ chức quần chúng đối với chính cán bộ chủ trì. Vì vậy phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa tổ chức đảng các cấp, các cơ quan chức năng quản lý nhân sự với các tổ chức, đoàn thể, quần chúng trong đơn vị, cấp ủy, chính quyền và nhân dân nơi gia đình cán bộ chủ trì sinh sống; phải phát huy cao độ dân chủ, duy trì nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt phê bình và tự phê bình trong đơn vị, thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản và phải thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Có cơ chế khuyến khích đội ngũ những cán bộ chủ trì cấp phân đội mẫu mực về tự học, tự rèn phẩm chất đạo đức, năng lực công tác. Khắc phục tư tưởng cho rằng đã là người có chức vụ cao trong cơ quan, đơn vị thì không cần phải tham gia giáo dục, rèn luyện. Phải duy trì thành nền nếp chế độ, cấp trên gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với cán bộ cấp dưới theo phân cấp để nắm chắc tình hình, chủ động giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh; đồng thời kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cán bộ, đảng viên.
Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp rất quan trọng, giữ vai trò quyết định đến hiệu quả ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của từng bản thân cán bộ, đảng viên. Thông qua phát huy tính tích cực, chủ động để cán bộ, đảng viên củng cố tri thức, tình cảm tốt đẹp, rèn luyện ý chí phấn đấu, qua đó ngăn ngừa, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, cấp uỷ, lãnh đạo các cấp phải chủ động làm tốt công tác quán triệt, giáo dục, động viên để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, chủ động học tập, rèn luyện một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ được giao. Tự ngăn chặn, đẩy lùi những tác động xấu, tiêu cực, tạo ra sức đề kháng, miễn dịch trước các hiện tượng sai trái lôi kéo ở cả trong và ngoài cơ quan, đơn vị, từ đó vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình của bản thân; thường xuyên tự kiểm điểm nghiêm túc với hành vi, lối sống, sinh hoạt để đánh giá đúng mặt tốt, mặt chưa tốt, nhận thức đúng hành vi, lối sống sai trái, lệch lạc; tìm ra cách thức, biện pháp tự sửa chữa, tự rèn luyện, tự học tập để sống tốt hơn.
Phát huy tính tích cực, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần chú trọng xây dựng cho cán bộ, đảng viên có động cơ đúng đắn, thái độ, trách nhiệm cao trong mọi hoạt động; quan tâm, định hướng, giúp đỡ cán bộ, đảng viên xây dựng nội dung, kế hoạch, phương pháp tự học tập, tự rèn luyện một cách khoa học, phù hợp với kế hoạch công tác chung của cơ quan, đơn vị; thường xuyên làm tốt công tác đánh giá, sơ tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương khen thưởng những cán bộ, đảng viên có thành tích tốt trong học tập, công tác. Đồng thời, phát hiện xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên thiếu nỗ lực, tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, tha hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng và quy định của cơ quan, đơn vị. Có biện pháp khuyến khích cán bộ, đảng viên, quần chúng phát hiện, báo cáo các trường hợp biểu hiện vi phạm pháp luật, kỷ luật để kịp thời ngăn chặn và kiên quyết xử lý khi cán bộ, đảng viên có vi phạm.
Bốn là, quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thiết yếu trên các mặt đời sống của cán bộ, đảng viên ngày càng tăng. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác chính sách nói chung, chính sách đối với cán bộ, đảng viên nói riêng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay một số chính sách bộc lộ những điểm bất cập, chưa hợp lý, chưa thống nhất, chưa thực sự tạo động lực và quyết tâm trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên... Những hạn chế đó làm cho đời sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên còn nhiều khó khăn, đây cũng là nhân tố tác động đến tâm lý của cán bộ, đảng viên, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống của chính họ.
Chính vì vậy, cấp ủy, lãnh đạo, cơ quan ban ngành các cấp cần phải thực sự quan tâm, chăm lo đến đời sống vật, chất tinh thần của đội ngũ cán bộ, đảng viên thuộc quyền. Chú trọng đảm bảo cơ sở vật chất, trang bị phục vụ công tác và sinh hoạt; xây dựng, cải tạo cảnh quan môi trường; nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần; ngăn chặn sự xâm nhập của tư tưởng xấu, độc thẩm thấu vào cơ quan, đơn vị; chủ động nắm và kịp thời giải quyết tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên thuộc diện quản lý. Bên cạnh đó, cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ, đảng viên thuộc quyền, đặc biệt là chính sách về đào tạo, quy hoạch, đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ; thực hiện tốt các chính sách về tiền lương, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đặc thù; có chế độ ưu đãi đối cán bộ, đảng viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo... Đây là những yêu cầu cấp thiết, những vấn đề nóng cần giải quyết nhằm tạo ra động lực để cán bộ, đảng viên phấn đấu và cống hiến, đồng thời là biện pháp quan trọng góp phần phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống, phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên./.
Hằng - KL



